Quá trình phát triển

Body: 

Ngày 01/4/1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ký Quyết định số 07/HĐ.BT thành lập hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính; Theo đó, KBNN các tỉnh cũng được thành lập. KBNN Cao Bằng được thành lập theo Quyết định số 185 TC, QĐ, TCCB ngày 21/3/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang gặp nhiều khó khăn, Hệ thống KBNN nói chung, đặc biệt đối với KBNN Cao Bằng càng gặp khó khăn gấp bội; cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ nghiệp vụ hầu hết nhờ vào cơ quan Ngân hàng. Lực lượng cán bộ, công chức chủ yếu chuyển từ ngân hàng sang, rất thiếu và trình độ thấp.

Song, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của KBNN Trung ương, Bộ Tài chính và các cấp uỷ đảng, chính quyền, sự phối kết hợp giúp đỡ của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự quyết tâm phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên chức, trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, KBNN Cao Bằng đã trưởng thành về mọi mặt, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà.

Kết quả hoạt động từ khi thành lập đến nay:

1. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ:

Ngày thành lập, KBNN Cao Bằng có Văn phòng Chi cục kiêm chức năng chi nhánh Thị xã, được cơ cấu thành 4 phòng ban gồm: Phòng Kế toán giao dịch; Phòng Kế hoạch tổng hợp, thanh tra, thi đua; phòng Kho quỹ; Phòng Tổ chức hành chính. Có 12 chi nhánh KBNN huyện với 87 cán bộ công chức hầu hết là chuyển từ phòng giao dịch Ngân hàng sang. Có 15 đảng viên; Trình độ Đại học, Cao đẳng chiếm 9 %; Trung cấp chiếm 61 %; Sơ cấp và chưa qua đào tạo chiếm 30 %; cán bộ nữ chiếm 62 % tổng số cán bộ công chức;

Đến nay, KBNN Cao Bằng có 10 phòng nghiệp vụ, 12 KBNN huyện, 1 điểm thu tại Cửa khẩu. Thời điểm 01/8/2013 có 221 cán bộ công chức; Trình độ Đại học chiếm 62,9 %; trình độ Cao đẳng chiếm 4,07 %; trình độ Trung cấp 19,46 %; Sơ cấp chiếm 2,26 % và chưa qua đào tạo 11,31 %; cán bộ nữ chiếm 55,20 % tổng số cán bộ công chức.

2. Quy mô hoạt động:

- Năm 1990, có 750 tài khoản giao dịch của  400 đơn vị; thì đến năm 2012 có 14.800 tài khoản giao dịch của 1.570 đơn vị;

- Doanh số hoạt động năm 1990 gần 300 tỷ đồng; đến năm 2012 doanh số hoạt động là 274.058 tỷ đồng, gấp 913 lần so năm 1990.

3. Kết quả hoạt động nghiệp vụ:

- Công tác quản lý quỹ NSNN:

+ Nhiệm vụ tập trung nguồn thu: Số thu NSNN qua KBNN Cao Bằng mỗi năm một tăng; nếu như năm 1990, tổng thu NSNN toàn tỉnh là 35 tỷ, thì năm 2012, tổng thu NSNN toàn tỉnh là 11.405 tỷ, gấp 325,8 lần so với năm 1990;

+ Nhiệm vụ kiểm soát chi:

Số chi NSNN toàn tỉnh năm 1990 là 45 tỷ đồng; Năm 2012, số chi NSNN toàn tỉnh là 17.357 tỷ đồng, gấp 385,7 lần so với năm 1990.

Giai đoạn 1990-1996, việc quản lý quỹ NSNN mang tính chất xuất quỹ NS theo lệnh chuẩn chi của Tài chính. Từ năm 1997 mới thực hiện kiểm soát chi theo luật NSNN. Qua kiểm soát chi từ năm 2000 đến năm 2012, KBNN Cao Bằng đã phát hiện 3.467 lượt đơn vị với 6.773 món chi chưa đủ thủ tục, chi sai chế độ như thiếu hồ sơ, hoá đơn, chứng từ, chi vượt dự toán, định mức, tiêu chuẩn quy định...

Với nhiệm vụ được giao kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, vốn CTMT, Vốn SN có tính chất đầu tư, sau khi nhận bàn giao từ cục đầu tư phát triển năm 2000 là 193 tỷ đồng, thì đến năm 2012, số lượng vốn qua KBNN kiểm soát thanh toán là 3.440 tỷ đồng, gấp 17,8 lần so năm 2000. Quá trình Kiểm soát chi đầu tư XDCB, KBNN Cao Bằng đã từ chối thanh toán 17.376 triệu đồng, loại ra khỏi quyết toán A, B do thực hiện sai chế độ.

- Thực hiện công tác huy động vốn, KBNN Cao Bằng đã nỗ lực phấn đấu để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao; Song do là một tỉnh miền núi, thu nhập của dân cư thấp nên kết quả huy động vốn còn khiêm tốn. Kết quả huy động vốn từ năm 1998 đến 2006 được là 487 tỷ đồng.

- Công tác quản lý và điều hoà tiền mặt: Năm 1990, tổng chi tiền mặt qua quỹ KBNN Cao Bằng gần 30 tỷ đồng thì năm 2012, số chi tiền mặt tại KBNN Cao Bằng là 530 tỷ (do thực hiện chi tiền lương qua tài khoản, số chi tiền mặt qua quỹ Kho bạc đã giảm xuống rất nhiều). Công tác an toàn Kho quỹ 10 năm trở lại đây đã được KBNN Cao Bằng đặc biệt quan tâm, thường xuyên kiểm tra an toàn kho quỹ được đặt lên hàng đầu. Do vậy, đã không xẩy ra mất mát, lợi dụng. Nhiều cán bộ đã trả lại hàng chục triệu đồng tiền khách hàng nộp nhầm, nộp thừa. Từ năm 2005 đến năm 2012, KBNN Cao Bằng đã trả 493 món tiền khách hàng nộp nhầm, nộp thừa với số tiền là 466, 686 triệu;

- Công tác kế toán: KBNN Cao Bằng đã thực hiện tốt công tác kế toán ngân sách, thực sự là đầu mối quản lý và cung cấp dữ liệu, thông tin, báo cáo tình hình thu, chi NSNN cho các cấp lãnh đạo trong việc quản lý, điều hoà NSNN. Với kết quả đạt được, Phòng Kế toán KBNN Cao Bằng đã được tặng nhiều Bằng khen của các cấp; đặc biệt, năm 2005 đã được tặng Huân chương lao động hạng ba của Chủ tịch nước.

- Công tác Thanh tra: thường xuyên được quan tâm chú ý bố trí cán bộ có năng lực, trình độ; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, kịp thời uốn nắn những sai phạm trong hoạt động nghiệp vụ, đảm bảo mọi chế độ, nguyên tắc của ngành luôn được tôn trọng và chấp hành nghiêm túc, góp phần đảm bảo an toàn tiền và tài sản của Nhà nước.

- Công tác tin học được chú trọng; nếu như năm 1993 là năm đầu tiên KBNN Cao Bằng được triển khai công nghệ tin học với vẻn vẹn 4 dàn máy vi tính được đặt tại phòng Kế toán KBNN tỉnh để tổng hợp số liệu thu, chi NSNN; thì đến năm 2012, KBNN Cao Bằng đã có 13 dàn máy tính kết nối diện rộng từ tỉnh đi các huyện và ngược lại, trong đó có 42 máy chủ, 240 máy trạm. Mỗi KBNN huyện được trang bị 1 hệ thống mạng và 12 máy trạm. 100 % cán bộ làm nghiệp vụ đều biết sử dụng máy tính (trừ số ít cán bộ bảo vệ).

4. Kết quả công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức đoàn thể trong 20 năm qua là sự cố gắng với tinh thần trách nhiệm cao của tập thể lãnh đạo và toàn thể cán bộ, công chức KBNN Cao Bằng với sự quan tâm đúng mức của các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương.

Khi thành lập, KBNN Cao Bằng có 15 đảng viên, chiếm 17 % cán bộ công chức toàn hệ thống KBNN Cao Bằng. Trong đó có 4 đơn vị chưa có đảng viên. Đến năm 2012, KBNN Cao Bằng đã có 1 Đảng bộ là Đảng bộ Văn phòng KBNN tỉnh (được thành lập từ năm 2002), 4 Chi bộ trực thuộc Đảng bộ; 12 Chi bộ KBNN huyện với ........ đảng viên trong toàn hệ thống KBNN tỉnh, chiếm 64,95 % trong tổng số cán bộ công chức.

Đi đôi với sự phát triển của tổ chức đảng, tổ chức Công đoàn, Chi đoàn thanh niên và chi hội Cựu chiến binh cũng được thành lập. trong những năm qua các tổ chức đoàn thể luôn phát huy tốt vị trí, vai trò của tổ chức mình, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan; chăm lo đến đời sống và bảo vệ lợi ích chính đáng của cán bộ, công chức. Các phong trào thi đua của ngành, của địa phương phát động luôn được hưởng ứng tham gia nhiệt tình. Các tổ chức đoàn thể đã phối hợp với chính quyền thực hiện những đợt quyên góp từ thiện, giúp đỡ người nghèo...KBNN Cao Bằng đã trực tiếp giúp đỡ một xã khó khăn của tỉnh, trong những năm qua đã có nhiều hoạt động thiết thực tích cực ủng hộ xã.

Với những thành tích đã đạt được trong 22 năm xây dựng và phát triển, KBNN Cao Bằng đã được tặng 5 cờ và 08 Bằng khen của UBND tỉnh, 04 Bằng khen của Bộ Tài chính, 01 Bằng khen của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và nhiều Bằng khen và giấy khen của các cấp, tổ chức đoàn thể tặng cho các đoàn thể KBNN Cao Bằng và KBNN huyện. Đặc biệt trong năm 2003, KBNN Cao Bằng đã được đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ tịch nước.

Phát huy những thành quả đã đạt được trong 22 năm xây dựng và phát triển, KBNN Cao Bằng sẽ tiếp tục phát huy sức mạnh tập thể, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đã đưa ra cho các năm tiếp theo./.

 

BĐ tỉnh Cao Bằng